Danh ngôn:

"HỌC MÀ CHƯA THẤY VUI THÌ CHƯA GỌI LÀ HỌC" (Tư Mã Quang)







5.18.2012

Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2011

I. TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN BẢO HIỂM
Năm 2011 nền kinh tế xã hội Việt Nam gặp nhiều khó khăn do lạm phát cao và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo tăng trưởng GDP 5,89%, trong đó nông lâm ngư nghiệp tăng 4%, công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, dịch vụ tăng 6,99%. Đầu tư toàn xã hội 877,9 nghìn tỉ đồng tăng 5,7% bằng 34,6% GDP, thu ngân sách 674,5 nghìn tỉ đồng tăng 20,6%, dư nợ tín dụng tăng 12%, xuất khẩu đạt 96,3 tỉ USD tăng 33,3%, nhập khẩu đạt 105,8 tỉ đồng tăng 24,7%, FDI đạt 11 tỉ USD. Đó là điều kiện thuận lợi để tăng nhu cầu bảo hiểm tác động tới sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Song những khó khăn thách thức tác động tới ngành bảo hiểm không nhỏ. Chỉ số giá cả tăng 18,13% trong đó giá cả hàng tiêu dùng thiết yếu có nhóm tăng từ 50% đến 100% ảnh hưởng đời sống xã hội làm giảm số tiền tiết kiệm trong dân cư, giảm khả năng tham gia bảo hiểm hoặc duy trì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đối với người trước đây có thu nhập trung bình trở xuống, làm tăng chi phí bồi thường của bảo hiểm phi nhân thọ. Năm 2011 Nghị quyết của Chính phủ thực hiện thắt chặt tín dụng, thắt chặt chi tiêu và đầu tư công đã giảm nhu cầu bảo hiểm tài sản, xây dựng lắp đặt và tài sản mới mua.
Giá vàng tăng 24,6% cũng làm giao động tâm lý của người tham gia bảo hiểm. Thị trường chứng khoán, bất động sản ảm đạm làm giảm cơ hội đầu tư sinh lời của các doanh nghiệp bảo hiểm, thậm chí gây khó khăn vì phải trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tương đối lớn. Trong khó khăn người dân đã biết tiết kiệm để lo cho tương lai có thể gặp khó khăn tương tự. Thị trường tiền gửi ngân hàng lãi suất thấp hơn chỉ số lạm phát, thị trường bất động sản, chứng khoán ảm đạm thu nhập kênh đầu tư của người có tiền nhàn rỗi, chính vì vậy tạo tiền đề cho bảo hiểm nhân thọ phát triển.
Năm 2011, chế độ quản lý Nhà nước được hoàn thiện hơn một bước với việc ban hành Nghị định 123 hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi Nghị định 45, Nghị định 46/2007. Nhà nước triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, ban hành quy định về bảo hiểm trách nhiệm cơ sở khai thác sử dụng chất phóng xạ hạt nhân tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm phát triển trên lĩnh vực bảo hiểm phi tài sản.
II. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 20.497 tỉ đồng trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đạt doanh thu 18.484 tỉ đồng tăng trưởng 17,56%, các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn nước ngoài đạt doanh thu 2.013 tỉ đồng tăng trưởng 55,23%. Các nghiệp vụ đều tăng trưởng trong đó bảo hiểm nông nghiệp tăng 193%, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính tăng 87%, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển tăng 43%, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh tăng 37%, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người tăng 34%.
Dẫn đầu là bảo hiểm xe cơ giới đạt 6.134 tỉ đồng tăng trưởng 13%, bảo hiểm tài sản và thiệt hại đạt 5.034 tỉ đồng tăng trưởng 24%, bảo hiểm sức khỏe đạt 3.323 tỉ đồng tăng trưởng 34%, bảo hiểm tàu thủy đạt 1.850 tỉ đồng tăng trưởng 1%, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt 1.783 tỉ đồng tăng trưởng 43%.
Dẫn đầu doanh thu khai thác bảo hiểm gốc là Bảo Việt 4.900 tỉ đồng, PVI 4.228 tỉ đồng, Bảo Minh 2.140 tỉ đồng, PJICO 1.852 tỉ đồng, PTI 1.095 tỉ đồng.
Các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu cao là Samsung Vina 105%, Groupama 93%, Xuân Thành 79%, PTI 61%, Fubon 53%, Hùng Vương 52%.
Đã giải quyết bồi thường bảo hiểm gốc 8.445 tỉ đồng trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam là 7.765 tỉ đồng tỉ lệ bồi thường 42%, doanh nghiệp có vốn nước ngoài 680 tỉ đồng tỉ lệ bồi thường 33%. Tỉ lệ bồi thường cao là bảo hiểm cháy nổ 68%, bảo hiểm tàu thủy 57%, bảo hiểm hàng không 54%, bảo hiểm xe cơ giới 51%, bảo hiểm sức khỏe 43%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ đã bồi thường cao là Bảo Minh 57%, BIC 56%, Bảo Long 52%, Liberty 54%, Baoviet Tokyo Marine 50%, Hàng Không 44%, Phú Hưng 42%.
1. Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 6.134 tỉ đồng tăng trưởng 13%, đã giải quyết bồi thường 3.188 tỉ đồng, tỉ lệ đã trả bồi thường 51%. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 1.515 tỉ đồng, PJICO 910 tỉ đồng, PVI 566 tỉ đồng, Bảo Minh 565 tỉ đồng, PTI 524 tỉ đồng. Tỉ lệ đã trả bồi thường có rủi ro cao là Phú Hưng 308%, Bảo Long 72%, ABIC 65%, AAA 59%, Hàng Không 55%.
Bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới đạt doanh thu 1.188 tỉ đồng. Dẫn đầu là Bảo Việt 325 tỉ đồng, Pjico 244 tỉ đồng, Bảo Minh 188 tỉ đồng, PTI 131 tỉ đồng. Tổng số tiền đã bồi thường 3.188 tỉ đồng, tỉ lệ đã bồi thường 51%. Các DNBH có tỉ lệ bồi thường cao là Phú Hưng 661%, MSIG 77%, UIC 85%.
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp với Cục Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt đào tạo 2 lớp giám định hiện trường, xử lý tai nạn, thu thập phân tích hồ sơ tai nạn cho 250 cán bộ bảo hiểm. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã phát triển trung tâm phục vụ chăm sóc khách hàng 24h/ 7 ngày trong tuần. Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới có nhiều hoạt động tuyên truyền, tài trợ đầu tư công trình đề phòng hạn chế tổn thất, hỗ trợ nhân đạo, xây dựng cơ sở dữ liệu để thúc đẩy thị trường phát triển.
Tuy nhiên, Bảo hiểm xe cơ giới còn một số tồn tại: chưa quản lý chặt chẽ ấn chỉ về ghi đủ nội dung trên GCNBH, còn cạnh tranh bằng hạ phí không tương xứng với rủi ro hoặc tăng hoa hồng đại lý bằng chính sách trợ giúp kinh phí. Hiện tượng trục lợi bảo hiểm đã có dấu hiệu tăng cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa.
2. Bảo hiểm tài sản kỹ thuật
Bảo hiểm tài sản thiệt hại đạt doanh thu 5.034 tỉ đồng tăng trưởng 24%. Các doanh nghiệp doanh thu cao là PVI 2.218 tỉ đồng, Bảo Việt 379 tỉ đồng, Bảo Minh 242 tỉ đồng, BIC 186 tỉ đồng, PTI 165 tỉ đồng. Đã giải quyết bồi thường gốc là 949 tỉ đồng, tỉ lệ đã bồi thường 18%. Các DNBH có tỉ lệ đã bồi thường cao là Baoviet Tokyo Marine 131%, BIC 45%, AAA 37%.
Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và thiệt hại tính chung toàn thị trường 3 năm liền đã rơi vào tình trạng có tỉ lệ bồi thường (kể cả khiếu nại chưa giải quyết) xấp xỉ 100%. Những khuyến cáo được Hiệp hội đưa ra chưa tác động nhiều với doanh nghiệp bảo hiểm.
Bảo hiểm tài sản kỹ thuật bị ảnh hưởng nhiều của chính sách cắt giảm tín dụng, đầu tư công và giảm FDI. Các công trình xây dựng lắp đặt đa số tiến hành đấu thầu chọn doanh nghiệp bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh bằng hạ phí có trường hợp bằng 1/5 tổng dự toán cho công trình. Hiện tượng mở rộng điều khoản bảo hiểm sang cả lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới, tai nạn con người. Việc không tăng phí để giành giật dịch vụ vẫn chưa được khắc phục. Hiệp hội đã đưa ra cảnh báo Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu hàng đầu thế giới đẫn đến bảo hiểm xây dựng lắp đặt nhiều năm qua có tỉ lệ bồi thường (đã giải quyết và dự phòng bồi thường) lên tới trên 100%.
3. Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người
Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người đạt doanh thu 3.323 tỉ đồng, tăng trưởng 34%. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 1.372 tỉ đồng, Bảo Minh 627 tỉ đồng, PVI 209 tỉ đồng, PTI 184 tỉ đồng, PJICO 160 tỉ đồng. Số tiền đã giải quyết bồi thường 1.431 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 43%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ đã bồi thường cao là Bảo Long 90%, Fubon 63%, Hàng Không 57%, Hùng Vương 54%, PJICO 47%. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng và thành công trong việc phát triển sản phẩm bảo hiểm mới có quyền lợi về chăm sóc y tế, thương tật, tử vong cao hơn hấp dẫn với đối tượng khách hàng có thu nhập cao. Nhiều sản phẩm bảo hiểm sức khỏe được các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra thị trường hấp dẫn với nhu cầu xã hội.
Hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang đặt cho các doanh nghiệp bảo hiểm phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, ngăn chặn kịp thời. Do thiếu việc làm nhiều người lao động mua bảo hiểm theo mức trách nhiệm khoán bồi thường theo số ngày nằm viện không quá 60 ngày / năm đã tranh thủ làm thủ tục nhập viện tại cơ sở điều trị quen biết để hưởng lợi bảo hiểm. Nhiều người mua bảo hiểm chăm sóc y tế chế độ cao đã trục lợi bảo hiểm bằng cách cho mượn thẻ khám chữa bệnh, thân quen y bác sĩ để có được hóa đơn điều trị thuốc men (kể cả thuốc bổ, thực phẩm chức năng, chăm sóc sắc đẹp) để đòi tiền bảo hiểm
4. Bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu
Bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu đạt doanh thu 1.850 tỉ đồng, tăng trưởng 1%.. Các DNBH dẫn đầu về doanh thu gồm PVI 559 tỉ đồng, Bảo Việt 548 tỉ đồng, PJICO 235 tỉ đồng, Bảo Minh 224 tỉ đồng. Số tiền đã bồi thường 1.068 tỉ đồng, chiếm 57%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ đã bồi thường cao là BIC 158%, Bảo Minh 87%, Bảo Long 77%, Bảo Việt 56%, PJICO 45%.
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã hợp tác đàm phán với Hội chủ tàu P&I quốc tế bảo vệ quyền lợi cho chủ tàu Việt Nam.
11 năm liên tiếp nghiệp vụ bảo hiểm tàu thủy có số tiền phải bồi thường lớn hơn doanh thu phí bảo hiểm, 4 năm liên tiếp các tổn thất lớn xảy ra vào tháng 11 và 12 được coi là mưa thuận gió hòa do biến đổi khí hậu. Hiện tượng nợ phí của chủ tàu đã lên một con số lớn tăng gánh nặng cho các doanh nghiệp bảo hiểm. song các doanh nghiệp bảo hiểm sẵn sàng đón nhận những chủ tàu còn nợ phí của doanh nghiệp bảo hiểm khác, có lịch sử tổn thất nhiều thậm chí còn hạ phí hoặc tiếp tục cho nợ phí để giành giật khách hàng. Những khuyến cáo về việc mượn bằng cấp chuyên môn của thuyền bộ, không đủ trang thiết bị, biên chế thuyền bộ, mất an ninh an toàn hàng hải đưa ra cảnh báo cho các doanh nghiệp bảo hiểm.
5. Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài sản
Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài sản đạt doanh thu 1.723 tỉ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu doanh thu gồm PVI 450 tỉ đồng, Bảo Việt 354 tỉ đồng, Bảo Minh 292 tỉ đồng, PJICO 156 tỉ đồng, Samsung Vina 119 tỉ đồng. Số tiền đã giải quyết bồi thường 940 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 54%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ đã bồi thường cao gồm Bảo Long 579%, PTI 384%, Phú Hưng 126%, Bảo Minh 117%, UIC 94%.
Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đạt doanh thu 1.020 tỉ đồng, dẫn đầu là Bảo Minh 326 tỉ đồng, Pjico 154 tỉ đồng, Bảo Việt 90 tỉ đồng, PVI 51 tỉ đồng. Bồi thường toàn thị trường 248 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 24%. DNBH có tỉ lệ bồi thường cao UIC 167%, Bảo Ngân 80%, Toàn Cầu 69%, Bảo Long 62%.
Những khuyến cáo về cơ sở ngành hàng có nguy cơ cháy nổ cao đi liền với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mà Hiệp hội đưa ra chưa được nhiều doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện.
Nhiều đối tượng bảo hiểm thuộc diện mua bảo hiểm cháy nổ bắt buộc nhưng không được cấp giấy chứng nhận an toàn PCCC đã chuyển sang mua bảo hiểm tự nguyện để hưởng phí bảo hiểm thấp hơn. Nhiều khách hàng chỉ bảo hiểm cho công trình xây dựng, không mua bảo hiểm cho giá trị nội thất hoặc hàng hóa vật tư chứa đựng bên trong. Nguy cơ cháy nổ ngày càng cao đối với một số cơ sở sản xuất kinh doanh do thiếu mặt bằng, chứa đựng cả nguyên vật liệu thành phẩm, bán thành phẩm ngay tại xưởng sản xuất. Kết quả giám định của cơ quan PCCC là cháy do chập điện chưa điều tra đến cùng tại sao lại chập điện có lỗi của chủ cơ sở hay không nên gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm khi giải quyết bồi thường. Tranh chấp về không đóng phí bảo hiểm chỉ khi xảy ra cháy mới chuyển tiền đóng phí qua ngân hàng làm phát sinh nhiều vụ kiện tụng chi trả tiền bảo hiểm. Một số ngành hàng có tổn thất cháy nổ cao như gỗ, dệt may, giày dép, nhựa, hóa chất, công trình xây dựng đang ở giai đoạn hoàn thiện chưa lắp đặt thiết bị PCCC. Bảo hiểm cháy nổ cho chung cư và cho rủi ro cao ít có doanh nghiệp bảo hiểm vào cuộc, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh cho resort cũng là tiềm năng tổn thất lớn ngay cả những rủi ro thiên tai thông thường. Các doanh nghiệp bảo hiểm phối hợp nhau cùng tổ chức giám định chung cho lô hàng cùng một chủ bán hàng để xác định tổn thất và phối hợp nếu cần thiết bắt giữ tái đòi bồi thường.
6. Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt doanh thu 1.783 tỉ đồng, tăng 43% phù hợp với tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu. Các DNBH có doanh thu cao gồm Bảo Việt 393 tỉ đồng, Samsung Vina 231 tỉ đồng, PJICO 195 tỉ đồng, PVI 177 tỉ đồng, Bảo Minh 133 tỉ đồng. Tỉ lệ đã bồi thường chiếm 26% tương đương 474 tỉ đồng. Các doanh nghiệp có tỉ lệ đã bồi thường cao gồm BIC 92%, Bảo Long 54%, Bảo Ngân 49%.
Hiệp hội đang tiếp tục đàm phán tái tục hợp đồng với tổ chức Lloyd’MIU phục vụ 7 doanh nghiệp tham gia để kiểm tra thông tin cũng như lịch sử tàu để quản lý rủi ro và tư vấn cho khách hàng.
Những khuyến cáo về quản lý rủi ro phí bảo hiểm do Hiệp hội đưa ra chưa được nhiều doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện.
Hiện tượng mất hàng trong các container còn nguyên kẹp chì do trộm cắp tinh vi mất cả thanh phôi thép nặng gần 2 tấn, tổn thất đối với hàng xá, hàng bao vượt mức khấu trừ đã được khuyến cáo. Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm còn chưa thu phí tàu già, chưa giám định hầm tàu khi chuẩn bị xếp hàng theo khuyến cáo của Hiệp hội.
7. Các sản phẩm bảo hiểm khác
Bảo hiểm hàng không đạt doanh thu 581 tỉ đồng, tăng 11%, đã bồi thường 316 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 54%,
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đạt doanh thu 52 tỉ đồng, tăng 37%, đã bồi thường 19 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 36%,
Bảo hiểm trách nhiệm chung đạt doanh thu 437 tỉ đồng, tăng 8%, đã bồi thường 28 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 6%,
8. Đánh giá chung
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tiếp tục phát triển nhưng cạnh tranh gay gắt. Cạnh tranh bằng hạ phí mở rộng điều khoản điều kiện bảo hiểm để giành giật khách không tương xứng với rủi ro chấp nhận bảo hiểm đã làm cho nhiều DNBH nhiều năm liên tục thua lỗ về kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm. Hiệp hội cùng các doanh nghiệp bảo hiểm đang xây dựng biểu phí cơ bản cho nhóm đối tượng bảo hiểm có rủi ro cao để cảnh báo cho các doanh nghiệp bảo hiểm khi định phí bảo hiểm
Ngoài ra, Hiệp hội cùng các doanh nghiệp bảo hiểm đang triển khai chương trình xây dựng hệ thống thông tin quản lý rủi ro đối với khách hàng, đối tượng bảo hiểm có rủi ro cao: không nộp đủ phí, đã từng trục lợi bảo hiểm, có số lần tổn thất hoặc số tiền bồi thường cao trong thời gian qua.
III. THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ
Khó khăn chung của nền kinh tế năm 2011 cũng tác động tới xu hướng khai thác của các sản phẩm bảo hiểm. Sản phẩm bảo hiểm tử kỳ mang tính bảo vệ đơn thuần với chi phí hợp lý và bảo hiểm liên kết đầu tư (chủ yếu là sản phẩm liên kết chung) có phí linh hoạt hoặc các sản phẩm có mệnh giá cao hẳn là những nét chính trong hoạt động khai thác bảo hiểm nhân thọ trong năm 2011.
1. Số lượng hợp đồng bảo hiểm:
Số lượng khai thác mới đạt 880.928 hợp đồng (sản phẩm chính), tăng 7%, trong đó Prudential 331.725 hợp đồng, Bảo Việt Nhân thọ 140.019 hợp đồng và Manulife 95.394 hợp đồng.
Cơ cấu số lượng hợp đồng khai thác mới: bảo hiểm hỗn hợp 41,3%; bảo hiểm tử kỳ 31,9%; bảo hiểm đầu tư 26%; bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ và sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ 0,7%. Đây là năm thứ 3 liên tiếp, tỉ trọng sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp trong khai thác mới có xu hướng giảm xuống, nhường chỗ cho hai dòng sản phẩm khác là sản phẩm tử kỳ và sản phẩm đầu tư (chủ yếu là sản phẩm liên kết chung).
Số lượng khôi phục hiệu lực trong năm là 84.538 hợp đồng tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó Prudential: 78.072 hợp đồng, Dai-ichi 3.403 hợp đồng và AIA 1.244 hợp đồng. Nhóm sản phẩm khôi phục nhiều nhất là: Sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp và sản phẩm tử kỳ.
Số lượng hết hiệu lực trong kỳ là 715.996 hợp đồng (sản phẩm chính) tăng 12%, trong đó Prudential 294.668 hợp đồng, Bảo Việt Nhân thọ 206.361 hợp đồng và Manulife 83.296 hợp đồng
Nhóm sản phẩm hết hiệu lực nhiều nhất gồm bảo hiểm hỗn hợp chiếm 485.638 hợp đồng, bảo hiểm tử kỳ 171.114 hợp đồng, bảo hiểm đầu tư 50.551 hợp đồng.
Tổng số lượng có hiệu lực cuối kỳ là 4.459.771 hợp đồng (sản phẩm chính), tăng 5% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó Prudential 1.923.571, Bảo Việt Nhân thọ 1.274.459 hợp đồng và Manulife 355.745 hợp đồng.
2. Số tiền bảo hiểm:
Tổng mức trách nhiệm mà các DNBH Nhân thọ đang nắm giữ là 465 nghìn tỉ đồng tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó mức trách nhiệm của các sản phẩm chính đạt 343 nghìn tỉ đồng tăng 35%, mức trách nhiệm của các sản phẩm phụ đạt 122 nghìn tỉ đồng tăng 7%. Sản phẩm bảo hiểm có mức trách nhiệm cao nhất là sản phẩm đầu tư với 169 ngàn tỉ.
Các doanh nghiệp có tổng mức trách nhiệm cao trên thị trường bảo hiểm là: Prudential 139 ngàn tỉ, Dai-ichi Life và ACE Life là 72,5 ngàn tỉ đồng và AIA là 66 ngàn tỉ.
3. Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm định kỳ năm đầu trong năm 2011 đạt 4.565 tỉ đồng tăng 23,5%, phí bảo hiểm đóng một lần là 52 tỉ đồng tăng 2,7%. Tổng phí khai thác mới trong năm đạt 4.617 tỉ đồng tăng 23%, trong đó Prudential 1.313 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ 1.030 tỉ đồng và Manulife 537 tỉ đồng.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng cho thấy có sự phân hóa rõ rệt. Số lượng hợp đồng khai thác mới tăng ở mức thấp ngược lại phí bảo hiểm khai thác mới tăng ở mức cao cho thấy những sản phẩm giá trị cao, mệnh giá lớn, phí bảo hiểm cao dành cho các đối tượng là cá nhân có thu nhập cao được tập trung phát triển, là xu hướng chính tạo ra sức bật trong bức tranh chung của thị trường bảo hiểm nhân thọ năm 2011.
Tổng phí bảo hiểm toàn thị trường là 16.025 tỉ đồng, tăng 16,2%, trong đó Prudential 6.009 tỉ đồng chiếm 37,5% thị phần, Bảo Việt Nhân thọ 4.515 tỉ đồng chiếm 28,2% thị phần và Manulife 1.778 tỉ, chiếm 11,1% thị phần.
Nhờ có sự phát triển trong nhiều năm, nhóm sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp vẫn là nhóm sản phẩm có tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu tổng doanh thu phí bảo hiểm, chiếm 70% (11.226 tỉ đồng), sản phẩm đầu tư là 21% (3.360 tỉ đồng), sản phẩm phụ chiếm 5,8 % (930 tỉ đồng).
4. Trả tiền bảo hiểm:
Tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi cho các khách hàng trong năm 2011 là 6.029 tỉ đồng, trong đó Bảo Việt 3.150 tỉ đồng, Prudential 1.679 tỉ đồng và Manulife 560 tỉ đồng.
Tổng số giá trị hoàn lại là 2.379 tỉ đồng, trong đó Prudential 1.106 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ 625 tỉ đồng và Manulife 337 tỉ đồng.
5. Số lượng đại lý bảo hiểm.
Tính đến hết năm 2011, tổng số lượng đại lý có mặt trên thị trường là 202.956 người tăng 25%, trong đó Prudential 102.130 người, Bảo Việt Nhân thọ 23.725 người và Cathay Life 16.942 người.
Số lượng đại lý mới tuyển dụng trong năm 2011 là 134.106 người tăng 24%, trong đó Prudential 42.911 người, Cathay Life 17.245 người và Dai-ichi Life 15.640 người.
6. Xu hướng thị trường trong năm 2012
Mặc dù, năm 2012 được dự đoán tiếp tục là một năm khó khăn của ngành bảo hiểm nhân thọ, nằm trong sự khó khăn chung của nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên cũng có những tín hiệu tích cực đem lại sự phát triển mới cho thị trường bảo hiểm, đem lại cơ hội mới dành cho ngành bảo hiểm nhân thọ:
- Tác động của chính sách giới hạn tăng trưởng tín dụng trong hệ thống ngân hàng là yếu tố tích cực thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng giữa hệ thống ngân hàng với bảo hiểm, là tín hiệu khả quan cho sự phát triển mạnh các sản phẩm bảo hiểm – ngân hàng
- Chi phí chủ sử dụng lao động mua bảo hiểm cho người lao động được tính vào chi phí trước thuế sẽ tạo tiền đề cho sản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm hướng tới doanh nghiệp.
- Hạn chế của hệ thống bảo hiểm y tế với quyền lợi thấp sẽ là cơ hội thúc đẩy sự phát triển hơn nữa các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có nhiều quyền lợi chăm sóc y tế chất lượng cao và các dòng sản phẩm bảo hiểm sức khỏe có giá trị cao.
IV. DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NĂM 2012
Năm 2012, những khó khăn vốn có từ năm 2011 vẫn tiếp tục diễn ra, nguy cơ lạm phát còn cao, nhà nước tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó trọng tâm tái cấu trúc ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm sẽ tác động tới thị trường bảo hiểm.
Dự báo thị trường bảo hiểm tài sản sẽ tăng chậm lại do tiếp tục thắt chặt tín dụng quản lý chi tiêu và đầu tư công buộc các DNBH Phi nhân thọ phải chuyển hướng sang phát triển thị trường, sản phẩm bảo hiểm phi tài sản.
Nhiều doanh nghiệp phải sản xuất cầm chừng hoặc ngừng hoạt động vì khó tiếp cận được tín dụng ngân hàng làm tăng số lượng lao động thất nghiệp và giảm thu nhập gây ảnh hưởng đến nhu cầu mua bảo hiểm nhân thọ.
Thị trường chứng khoán, bất động sản chưa có nhiều khởi sắc làm cho các DNBH thận trọng hơn với danh mục đầu tư trong lĩnh vực này.
Chế độ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ hoàn thiện thêm một bước với việc chính phủ ban hành Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn chế độ hạch toán, kế toán trong DNBH Nhân thọ – Phi nhân thọ, thông tư sửa đổi thông tư 126, 103 và đẩy mạnh triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Cơ hội đang đến với DNBH cần nắm bắt để phát triển. Trước hết cần phát triển các sản phẩm bảo hiểm đã được hỗ trợ bởi các văn bản pháp quy như bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm cơ sở khám chữa bệnh, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới (có sửa đổi bổ sung), bảo hiểm nhân thọ do chủ sử dụng lao động mua cho người lao động.
Bộ Tài chính kêu gọi các DNBH thực hành tiết kiệm, cắt giảm chi phí từ 5% – 10%, sắp xếp lại DNBH, tái cấu trúc lại thị trường bảo hiểm, buộc các DNBH phải tự đổi mới, nâng cao năng lực kinh doanh bảo hiểm, quản trị điều hành, quản lý rủi ro, chăm sóc khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh lành mạnh.
Nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có thể đạt tăng trưởng 20% (khoảng 24.200 tỉ đồng), nhân thọ tăng trưởng 15% (khoảng 18.400 tỉ đồng) và tổng đầu tư vào nền kinh tế xã hội đạt 115.000 tỉ đồng.
NGUỒN: HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM (avi.org.vn)

ĐĂNG NHẬP

VUI LÒNG ĐĂNG NHẬP GMAIL TRƯỚC KHI THAM GIA!